Giờ này tuần trước tôi đang hì hụi chuẩn bị cho bài thuyết trình quyết định dài 15 phút của đợt tập huấn hướng dẫn viên ở Te Papa. Chưa bao giờ tôi phải thuyết minh tại điểm nhiều và liên tục đến vậy. Mà đúng là “practice makes perfect” chứ. Cách đây mới ba tuần, khi thực hiện bài thuyết minh lần đầu, cả hội đều nói mà quên thở vì dường như đều đang cố nhồi nhét hàng trăm ngàn thông tin, dữ liệu vào đầu. Bấn loạn nhất là cái đoạn “người nước ngoài lại đi thuyết minh cho khách du lịch nước ngoài nghe về văn hóa của người Maori bản xứ”. Bấn loạn nhì là mỗi bài thuyết minh cần mở đầu bằng các câu chào hỏi bằng tiếng Te Reo – ngôn ngữ của người Maori và kết thúc cũng bằng một đoạn chào tạm biệt và khuyến khích tặng kèm một thông điệp thể hiện bản sắc văn hóa. Được cái nhóm 9 người thì có tới 7 người đến từ các góc khác nhau của thế giới từ Ý, Argentina, đến South Africa rồi Việt Nam; nên chúng tôi đồng cảm sâu sắc và dìu nhau tiến lên. Đến giờ thì nhờ ngày nào cũng thuyết minh, mà cả hội tiến bộ rõ rệt.
Ngày cuối của đợt tập huấn, người phụ trách tập huấn hướng dẫn viên của bảo tàng quốc gia – chỉ có yêu cầu “nhẹ nhàng” là phải thuyết minh về các khu triễn lãm ở ít nhất hai tầng khác nhau. Tôi đã chuẩn bị nội dung cho ba điểm nhưng không ngờ lại quá sa đà thuyết minh về các loại chim đặc hữu ở NZ, dẫn đến không có thời gian cho khu triễn lãm thứ ba. Tôi thấy cũng hơi phí nên sẽ viết lại ở đây để chia sẽ thêm về một điều đặc biệt nữa của NZ bên cạnh cái vị trí cô lập độc đáo và hệ động thực vật đa dạng đáng tự hào.
Điều đặc biệt đó chính là…phụ nữ. Sự thật thì ở đâu phụ nữ cũng phi thường nhưng nếu tìm nơi để triển lãm về những điều thật đặc biệt phụ nữ đã làm được và họ làm cho chính bản thân họ thì có lẽ New Zealand là nơi thuyết phục nhất. Cách đây đúng 125 năm, sau nhiều hoạt động đấu tranh, phụ nữ NZ đã giành được quyền bầu cử và lần đầu tiên đi bỏ phiếu vào tháng 11 năm 1983. Với sự kiện lịch sử này, NZ trở thành đất nước đầu tiên nơi phụ nữ có quyền bỏ phiếu và trở thành nguồn cảm hứng cho phụ nữ khắp nơi trên thế giới đấu tranh cho quyền lợi chính đáng của mình. Hiện tại ở Te Papa đang diễn ra triễn lãm Women Suffrage 125 – một hoạt động nằm trong chuỗi sự kiện kỉ niệm 125 năm dấu mốc quan trọng này của lịch sử NZ và cả lịch sử thế giới.
Một trong những hiện vật ấn tượng nhất với tôi ở triễn lãm này là bộ trang phục vét lịch sự dành cho nữ giới vào những năm 1990. Điều làm cho bộ trang phục trở nên ấn tượng tất nhiên không ai khác là người phụ nữ mặc nó – Jenny Shipley – nữ thủ tướng đầu tiên của New Zealand và bà mặc bộ áo váy này khi tuyên thệ nhậm chức tổng thống năm 1997. Bà được biết đến là một phụ nữ rất mạnh mẽ và can đảm. Nghe nói vị thủ tướng tiền nhiệm – ông Robert Muldoon – đã nói một câu khá động chạm: “you should be at home on the farm, making scones”. Không biết câu nói này có trực tiếp dành cho bà không. Chỉ biết là 7 năm sau, bà đã minh chứng cho ông này thấy phụ nữ không đợi đàn ông bảo họ phải nên ở đâu hay nên làm gì. Họ có thể ở bất cứ đâu hoặc làm bất cứ điều gì họ muốn. Tôi xem đến đây thì cười tâm đắc vì tưởng tượng ra cảnh ông Robert bị nghẹn, không nuốt trôi nổi miếng bánh scones mua ở siêu thị khi nghe bà Jenny đọc lời tuyên thệ nhậm chức.

Nữ thủ tướng đương nhiệm của NZ – Jacinda Adern – cũng gởi tặng triển lãm một kỉ vật rất thú vị – đó là chiếc mũ len bé xíu mà con gái Neve của bà đội khi lần đầu tiên ra mắt công chúng vào tháng 6 vừa qua. Việc thủ tướng tặng một chiếc mũ len vài ngày tuổi của con gái cho một triễn lãm tầm cỡ quốc gia nghe có vẻ bình thường. Với sự đồng cảm từ một người phụ nữ cũng mới lần đầu làm mẹ, tôi có thể cam đoan rằng chiếc mũ len nhỏ bé ấy là một kỉ vật vô cùng thiêng liêng và việc bà chọn tặng nó mang một thông điệp lớn lao không chỉ cho những người xem triễn lãm mà còn cho chính bà và con gái. Theo tôi thông điệp đó rất rất hay…đó là “phụ nữ có thể làm bất cứ điều gì, đặc biệt là khi họ làm cho chính bản thân họ và cho con của họ”. Chiếc mũ của bé Neve được đặt cạnh tờ tiền 10 đô có in hình Kate Sheppard – lãnh đạo của phong trào đấu tranh giành quyền bầu cử cho phụ nữ. Với sự sắp xếp này, Jacinda cùng một lúc thể hiện sự tri ân với Kate, nhờ Kate và những phong trào đấu tranh do bà dẫn dắt mà Jacinda và con gái Neve hiển nhiên có quyền bầu cử. Đồng thời, nó cũng là một lời nhắn nhủ tới con gái trong tương lai rằng thế hệ của Kate, thế hệ của bà đã đưa đến những thay đổi như thế; thế hệ của Neve sẽ mang đến những thay đổi như thế nào?
Cái sự thật “phụ nữ có thể làm bất cứ điều gì” thì trong lịch sử của tất cả các quốc gia có lẽ đều có hàng loạt minh chứng rõ ràng, chẳng cần phải bàn nữa. Nhưng cái bí quyết và cũng là nguyên tắc “họ (cần) làm cho chính họ” thì theo tôi là một quan niệm tương đối mới so với văn hóa Á Đông, rất tiến bộ và chuẩn không cần chỉnh luôn. Kate Sheppard lãnh đạo các phong trào đấu tranh giành quyền bầu cử vì bà muốn được đi bỏ phiếu. Jacinda thì bắt đầu xây dựng kĩ năng và sự nghiệp chính trị lẫy lừng của mình từ ghế nhà trường khi vận động chiến dịch yêu cầu nhà trường cho phép nữ sinh mặc quần dài thay vì chỉ được mặc váy. Động lực ở đây rõ ràng là vì bà muốn có quyền tự quyết về chuyện ăn mặc của mình. Jacinda sinh ra trong một gia đình có bố là nhân viên cảnh sát, mẹ làm tạp vụ ở một trường học, bản thân bà từng là DJ nhiều năm trước khi trở thành nữ thủ tướng trẻ nhất thế giới. Rồi đang trên đỉnh cao của sự nghiệp chính trị, bà tiếp tục phá vỡ kỉ lục của chính mình để trở thành…nữ thủ tướng trẻ nhất sinh con trong thời gian tại vị! Khi con được ba tháng tuổi, thì bà mang con theo khi tham dự cuộc họp Đại hội đồng Liên Hợp Quốc để vẫn có thể nuôi con bằng sữa mẹ như bao bà mẹ khác. Thỉnh thoảng báo chí ca tụng quá đà, chứ sự thật là họ làm được bởi họ có động lực chân chính và biết làm cho bản thân mình. Mà cái này là qui luật tự nhiên, rất đáng tôn vinh và tự hào, chứ thiết nghĩ không có gì phải dấu.
Liên hệ đối chiếu một chút về động lực sống và làm việc của phụ nữ nước ngoài và phụ nữ Việt thì tôi nhìn thấy hai bức tranh hoàn toàn đối lập. Phụ nữ nước ngoài ở một đất nước trẻ nhất thế giới – New Zealand- cũng đã có tới 125 năm lịch sử đấu tranh kêu gọi phụ nữ sống và làm việc vì chính bản thân họ. Việt Nam – một đất nước với hàng ngàn năm lịch sử thì đến tận hôm nay đa số phụ nữ Việt vẫn được giáo dục và tự răn dạy mình sống theo chuẩn mực của thời kì phong kiến. Những lời khuyên dạy “Tam tòng tứ đức” vẫn phổ biến đến nỗi phụ nữ Việt ngày nay vẫn mặc định: “Có con phải khổ vì con; Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng”. Còn qui luật tự nhiên “sống cho chính mình” lại không được xem trọng, thậm chí bị đánh đồng với thói ích kỷ hay tội thiếu đức hy sinh. Hiện thực này đang góp phần lớn dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng từ thế hệ này sang thế hệ khác như suy kiệt sức khỏe và trầm cảm ở phụ nữ.
Trở lại với triễn lãm Women Suffrage 125 ở New Zealand, một chặng đường đấu tranh và những thành tựu của phụ nữ New Zealand đã được tái hiện sinh động qua những hiện vật gắn liền với cuộc sống và sự nghiệp của họ. Từ bảo tàng bước ra ngoài đường, tôi cũng hằng ngày bắt gặp phụ nữ lái xe buýt, phụ nữ đi làm sơn, phụ nữ sữa ống nước, phụ nữ làm cảnh sát phòng cháy chữa cháy, phụ nữ làm vườn. Những người phụ nữ bình thường như tôi như bạn nhưng họ có thể làm được bất cứ điều gì họ muốn và hạnh phúc vì họ tự chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình. Họ làm được, sao chúng ta lại không? Khi chuẩn bị bài thuyết trình, tôi nói với chính mình, tôi sẽ chia sẻ trải nghiệm và suy nghĩ của mình về triễn lãm Women Suffrage 125, tôi đã không có đủ thời gian trong 15 phút nhưng tôi quyết định viết lại vì viết cũng là một cách chia sẻ. Và tôi đã làm được. Một việc nhỏ và đơn giản như vậy đôi khi cũng là một cuộc chiến đấu để chiến thắng chính bản thân mình. Bạn hãy tin tôi, hãy thử bắt đầu làm một việc gì đó, phát triển một kĩ năng gì mới cho chính bản thân bạn. Bạn có thể thành công, bạn có thể thất bại nhưng có một điều chắc chắn là bạn đã chiến thắng bản thân mình và bạn sẽ không bao giờ phải hối tiếc vì đã không làm khi có cơ hội./.
